Đinh Bộ Lĩnh – thân thế và sự nghiệp (phần II)


S
ự nghiệp

Xây dựng lực lượng, nuôi chí lớn

Sau năm Ất Tỵ (945), Đinh Công Trứ đem gia đình rời Hoan Châu về quê nhà sinh sống, được vài năm thì ông qua đời. Trong thời gian ở quê, Đinh Bộ Lĩnh lấy làng mình là thôn Đào Ao (Đào Áo, Đào Úc) thuộc xã Gia Thủy, huyện Gia Viễn làm nơi chiêu tập quân sĩ và được bầu làm Trưởng trại Đào Úc. Từ đó, thế và lực của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng mạnh, thu phục được nhiều lực lượng.

Năm Canh Tuất (950), Dương Tam Kha bị phế truất, con thứ của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn lên thay, xưng là Nam Tấn vương và mời anh là Ngô Xương Ngập cùng cai quản đất nước. Mặc dù Đinh Bộ Lĩnh đã cho con trai mình là Đinh Liễn về kinh đô làm con tin nhưng vào năm Tân Hợi (951), hai Vương đã đem quân từ Cổ Loa đến đánh Đinh Bộ Lĩnh. Do tình thế bất lợi, Đinh Bộ Lĩnh quyết định dời nghĩa quân về động Hoa Lư, lợi dụng địa hình núi non hiểm trở để cố thủ.

Cuộc chiến cố thủ ở động Hoa Lư

Động Hoa Lư thuộc sơn phận làng Mai Phương (xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn), còn gọi là xứ Hoa Lư, dân gian thường gọi là Thung Lau hoặc Thung Ông. Phía trước động là một dãy núi đá vôi cao khoảng 30m, có một lối mòn vượt qua (quèn), đến giờ nơi đây vẫn rất khó đi lại. Phía ngoài quèn là một cái đầm Cút rộng hàng trăm mét, dài gần 1km, thực sự là một con hào thiên nhiên khó vượt qua. Nối Thung Lau với Thung Lá là những lối mòn vượt quèn có thể qua lại nhưng không dễ dàng. Từ Thung Lá có thể qua lại với Thung Lau.

Động Hoa Lư, xét về mặt dụng binh là điểm cố thủ lý tưởng khi binh lực còn yếu mà bị tấn công từ ngoài vào. Do vậy, cuộc đánh dẹp động Hoa Lư vào năm 951 của Xương Văn và Xương Ngập không thành. Đối với Đinh Bộ Lĩnh, đây là một thắng lợi ban đầu, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mở ra một bước ngoặt trong sự nghiệp vĩ đại của ông.

Cuộc tiễu trừ và hàng phục các thế lực cát cứ

Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh theo về với Trần Minh Công (Trần Lãm) là người vốn có quan hệ với Đinh Công Trứ. Trần Minh Công thấy Đinh Bộ Lĩnh có chí hướng bèn tin dùng, giao cho binh lính để đi đánh dẹp các thế lực khác. Các trận do Đinh Bộ Lĩnh chỉ huy đều thắng lợi. Không những vậy, Đinh Bộ Lĩnh cũng hàng phục được các thế lực ở Đỗ Động giang, từ đó, dân kinh phủ đều theo về, nhà Ngô mất.

Trong số các sứ quân thuộc thập nhị sứ quân đã kể ở trên, người nổi lên suốt từ năm 965 cho đến năm 967, chỉ có Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn, Nguyễn Siêu tương đối mạnh. Số còn lại thực sự nhỏ bé, chỉ có bốn hoặc hai sứ quân (tư liệu khảo sát gần đây) là có dấu vết thành trì. Lực lượng của mỗi sứ quân đều rất khiêm tốn. Và mỗi sứ quân, hùng trưởng chỉ chiếm giữ một địa bàn nhỏ hẹp, lớn thì vài huyện, nhỏ thì vài làng, thôn.

Về hoạt động của các sứ quân, ngoài bốn người đứng đầu là: Ngô (Lữ) Xử Bình, Kiều Tri Hựu, Dương Huy, Đỗ Cảnh Thạc tranh nhau làm vua ở Cổ Loa, thì hoạt động của các hùng trưởng, sứ quân còn lại chỉ là tích chứa lương thảo, tăng cường lực lượng, nghe ngóng tình hình để tính kế về sau.

Về thời gian nổi dậy tự trị của các sứ quân, đều gói gọn trong hai năm 965-967, bắt đầu sau cái chết của Xương Văn và kết thúc khi bị Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp. Tóm lại, lịch trình và một số diễn biến của quá trình thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh như sau:

Trước năm 965, Đinh Bộ Lĩnh chủ động liên minh quân sự với Trần Lãm.

Từ năm 966 trở đi, Phạm Phòng Át, Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí hàng phục. Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn, Đinh Bộ Lĩnh đã liên minh, hàng phục được ba lực lượng lớn, làm cho thế và lực của ông càng thêm mạnh mẽ, tạo điều kiện tiến hành biện pháp quân sự đối với các hùng trưởng, sứ quân còn lại chưa chịu đầu hàng. Trước hết là Đỗ Cảnh Thạc. Biết Đỗ Cảnh Thạc là một người trí dũng, chỉ có thể thắng bằng mưu, nên Đinh Bộ Lĩnh nhân đêm tối chia quân bốn đạo đánh ập vào. Lúc ấy, Đỗ Cảnh Thạc đang ở đồn Bảo Hà, còn đại bản doanh ở trại Quèn chỉ có phó tướng trông coi. Sau đó Đỗ Cảnh Thạc tập hợp tàn quân cùng gia thần, dân phu của 72 ấp, giao tranh với Đinh Bộ Lĩnh hơn một năm trời, sau bị tên lạc mà chết, thế lực Đỗ Cảnh Thạc tan rã.

Tiếp theo là cuộc chiến với Nguyễn Siêu ở Phù Liệt. Thần phả ghi rằng: Nguyễn Siêu đem hơn 1 vạn quân đóng ở Thanh Đàm thuộc Thanh Trì để phòng bị, dùng Nguyễn Trí Khả làm tiên phong, Trần Cổn làm Tả dực, Đỗ Cơ làm Hữu dực, Nguyễn Hiền làm Tổng quản… Tháng 11 năm Bính Dần (966), Đinh Bộ Lĩnh khởi binh ở chân núi Đọi (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam ngày nay).

Ngày 6 tháng 6 (967), các tướng nhà Đinh là Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Cao Sơn và Đinh Thiết đem binh mã đi đường phía Nam kéo đến vây. Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh lại sai Nguyễn Bặc làm tiên phong, Lê Hoàn tiếp chiến cùng đem quân đánh phá, còn bản thân ông thống lĩnh chủ quân, dùng voi xung trận đi tắt qua xã Cẩm Cơ tiến lên.

Ngày 26 tháng 6, theo lời hiến kế, Nguyễn Siêu lui quân về phía tây Bắc để nhận sự trợ giúp của hai sứ quân và cũng là hai anh em ruột Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp. Ngày 10 tháng 7, Nguyễn Siêu chia quân để một bộ phận ở lại giữ trại, còn mình dẫn một bộ phận đi xin viện binh. Ngày 15 tháng 7, quân của Nguyễn Siêu vượt sông gặp sóng gió bị chìm. Đinh Bộ Lĩnh nghe tin, sai 10 dũng sĩ ngầm vào thành Quèn phóng lửa đốt hết quân doanh. Nguyễn Siêu thất bại hoàn toàn.

Tiếp đó, đến lượt Kiều Công Hãn bị tấn công. Kiều Công Hãn thua chạy, tìm đến Ngô Nhật Khánh định hợp sức cùng chống cự, nhưng biết tin Khánh đã đầu hàng, bèn đem quân chạy về miền Giao Thủy (Nam Định). Khi đang gấp, lại bị Nguyễn Tấn người địa phương chặn đánh, Kiều Công Hãn bị thương rồi chết ở cầu An Lãng. Kiều Thuận là em cũng bị vây đánh, chống không nổi, bỏ thành chạy đến thôn Trù Mật (xã Sơn Vị, Lâm Thao, Phú Thọ) thì chết. Còn Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du cũng bị thua chạy tới Nghệ An rồi chết ở trong Hương Ái. Lý Khuê thua chết ở làng Dương Xá (xã Bình Sơn, Thuận Thành, Bắc Ninh). Riêng Nguyễn Khoan, Lã Đường không đánh mà tan. Nhà sử học Lê Văn Hưu đã viết: “Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ quân phục hết”.

Thành lập quốc gia Đại Cồ Việt, sự kết thúc vương triều Đinh

Sau khi đánh dẹp các hùng trưởng, sứ quân, thống nhất đất nước, năm 968, Đinh Bộ Lĩnh không kéo quân về thành Cổ Loa mà trở lại quê nhà lên ngôi, thành lập quốc gia mới, thiết lập bộ máy cai trị, tổ chức quân đội, bang giao với nhà Tống, chấn hưng kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng kinh đô Hoa Lư.

Về chính trị, sau khi đã thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối, việc đầu tiên mà Đinh Bộ Lĩnh phải làm là chính danh định phận, tức rời bỏ tước hiệu Vạn Thắng vương, lên ngôi vua với tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng đế. Việc xưng đế là tự khẳng định nước Việt cũng có một vị hoàng đế, tức không phải là vua chư hầu của “Thiên triều”. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, xưng là Hoàng đế ngụ ý mình ở địa vị cao siêu, vĩ đại, độc tôn không khác gì các hoàng đế Trung Hoa đương thời. Tôn hiệu Đại Thắng Minh Hoàng đế tuy chỉ có năm chữ, nhưng cũng đã cho thiên hạ biết mình là một ông vua vừa tài giỏi, vừa anh minh.

Tiếp theo, lập quốc hiệu là Đại Cồ Việt, cũng ngầm ý ngang với Đại Hán, Đại Đường, Đại Tống. Theo nghĩa quốc văn thì ba chữ Đại Cồ Việt có nghĩa là Nước Việt to. Có thể Đinh Tiên Hoàng đế chỉ muốn nhấn mạnh về một nước Việt vĩ đại.

Một việc không kém phần quan trọng nữa là xây dựng kinh đô đất nước, vì kinh đô là nơi tập trung các cơ quan quyền lực cao nhất của một quốc gia, bộ mặt của đất nước, là niềm tự hào của nhân dân, nơi làm việc và sinh hoạt của bộ máy quản lý nhà nước cấp cao nhất. Quốc gia Đại Cồ Việt độc lập, tự chủ và thống nhất không định đô ở Loa thành vì nơi đó đóng giữa đồng bằng rất trống trải trong bối cảnh Nhà nước Đại Cồ Việt vừa thoát ra khỏi ngàn năm Bắc thuộc và nạn cát cứ vừa mới được dẹp xong. Không những vậy, Cổ Loa lại không phải là quê hương nhà Đinh ... Vì vậy, vua đã quyết định đóng đô ở xã Trường Yên, Hoa Lư ngày nay. Tại đây, Vua Đinh đã triệt để lợi dụng, địa hình tự nhiên để xây dựng thành quách.

Sau khi định đô, ngay trong năm 968, Đại Thắng Minh Hoàng đế bắt tay ngay vào việc thiết lập bộ máy cai trị, sử cũ viết là "chế triều nghi, đặt trăm quan, dựng xã tắc". Công việc cụ thể là đưa ra những quy định về hoàng tộc (hoàng hậu, hoàng tử, công chúa, phi tần, cung nữ, phò mã), bộ máy bá quan văn võ, công sở làm việc, trách nhiệm và quyền lợi (lương bổng, áo mũ), luật lệnh, phân chia lãnh thổ quốc gia thành khu vực hành chính, thiết lập bộ máy quan lại địa phương, lập đàn xã tắc, xây chùa dựng quán ... Mô hình nhà nước thời Đinh là nhà nước trung ương tập quyền, lấy mô hình nhà nước Trung Hoa trước đó và đương thời làm khuôn mẫu nhưng không rập khuôn máy móc.

Về thể chế chính trị

Thể chế chính trị (chính thể) là hình thức tổ chức của chính quyền nhà nước, nói chung có hai nội dung: một là, kết cấu, trình tự tổ chức và sự phân bổ chức quyền của cơ quan quyền lực quốc gia, đặc biệt ở cấp trung ương; hai là, nguyên tắc tổ chức cơ cấu nhà nước mà bộ máy nhà nước phải tuân theo. Ở thời Đinh - Lê, đó là thể chế chính trị của nhà nước quân chủ phong kiến. Sử cũ chỉ ghi một cách quá sơ lược là chế triều nghi.

Hình thức tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước thời quân chủ phong kiến tập quyền nói chung, thời Đinh nói riêng theo sơ đồ hình tháp: trên hết là hoàng đế, dưới đó chia ra hai nhánh quyền lực là hoàng tộc, hoàng gia và bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương.

Hoàng đế, vua là người có quyền lực cao nhất không thể phân chia, toàn bộ quyền lực tối cao của nhà nước tập trung trong tay một vị hoàng đế.

Hoàng tộc là toàn bộ những người có quan hệ huyết thống ruột rà, máu mủ với nhà vua như cha mẹ, vợ con, cháu chắt.

Ở triều Đinh, cha vua là Đinh Công Trứ đã mất trước khi vua lên ngôi hoàng đế, mẹ vua thì không thấy sử cũ đề cập, nhưng khi đã là hoàng đế, không thấy sử sách ghi chép gì về việc vua truy tôn cho cha mẹ vua. Trong khi đó, chế độ hậu phi của hoàng đế, việc lập hoàng thái tử lại không thuần túy là chuyện nội bộ của hoàng gia, mà trở thành một chế độ của nhà nước và được bảo đảm chắc chắn. Đại Thắng Minh Hoàng đế lập một lúc năm bà hoàng hậu ngang nhau, đó là Đan Gia, Trinh Minh, Ca Ông, Cồ Quốc và Kiểu Quốc.

Vua Đinh là người đầu tiên lập ra chế độ tịnh hậu ở Việt Nam, do vậy, vua đã bị phê phán kịch liệt. Thực ra vào thế kỷ X, ở triều đại phong kiến tập quyền tự chủ đầu tiên của Việt Nam, giữa gia sự của hoàng tộc, quốc sự của đất nước, sự vụ của dòng họ và chính sự của cung đình chưa phân biệt rõ ràng, ông vua của thiên hạ và ông tộc trưởng của dòng họ Đinh nhiều khi xoắn xuýt, bện buộc vào nhau.

Năm 973, nhằm chia rẽ quốc gia Đại Cồ Việt, nhà Tống phong cho Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương, và hai năm sau, lại phong cho Đinh Liễn làm Giao Chỉ quận vương. Việc làm này của nhà Tống đã gây mối hiềm khích giữa Đinh Tiên Hoàng và con trưởng Đinh Liễn.

Bộ máy quan lại

Khi vừa lên ngôi năm 968, Vua Đinh đã "chế triều nghi, đặt trăm quan, lập xã tắc". Trăm quan ở đây là do chữ bá quan văn võ mà sử sách xưa thường viết, chỉ số đông, đầy đủ cả ban văn lẫn ban võ. Tuy nhiên, ở thời Đinh, sử ghi chép bộ máy quan lại rất sơ lược, không đầy đủ chức, tước, phẩm, hàm như từ thời Lê về sau. Gọi là bách quan văn võ, nhưng tìm trong sử liệu chỉ hơn 10 người có tên cụ thể.

Những người được phong tước gồm:

Tước vương có Nam Việt vương Đinh Liễn, Vệ vương Đinh Toàn.

Tước công có Định quốc công Nguyễn Bặc.

Những người giữ chức có:

+ Võ ban:

Tướng quân phong cho Lê Hoàn, một chức tương tự như tổng chỉ huy quân đội sau này, cai quản 10 đạo quân, tức chỉ huy toàn bộ quân đội quốc gia Đại Cồ Việt. Năm 980, Phạm Cự Lượng được phong làm Đại tướng quân trước khi ra trận đánh giặc.

Đô úy là chức quan võ của Trần Thăng, con rể vua (phò mã).

Ngoại giáp là chức quan võ của Đinh Điền, nhà Lý gọi binh là giáp, có thể nhà Đinh cũng gọi như vậy. Ngoại giáp là chức quan võ coi việc binh ở bên ngoài, rất quan trọng.

+ Văn ban:

Sĩ sư do Lưu Cơ đảm nhiệm ở phủ đô hộ, tức ở La Thành. Đây là chức quan coi việc hình ngục.

Chi hậu là chức quan phong cho nội nhân Đỗ Thích. Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, từ triều Lý trở đi, chức Chi hậu thuộc bộ Lễ, giữ việc triều hội yến hưởng trong cung, lúc vua ra ngoài cung thì đi theo cung phụng, lo việc lễ nghi.

+ Phụ trách tôn giáo và tín ngưỡng:

Tăng thống là chức quan cao nhất trông coi Phật giáo, được giao cho nhà sư Ngô Chân Lưu, hiệu là Khuông Việt. Ông là người hương Cát Lợi, huyện Thường Lạc, trị trì ở chùa Phật Đà, là thế hệ thứ tư thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông. Tăng thống là người đứng đầu các sư tăng, cũng giống như Chiêu Nguyên Tự giữ chức Đại thống trông coi Phật giáo, dưới chức đại thống có ba người giúp việc gọi là Đô duy na.

Tăng lục do Trương Ma Ni đảm trách, là chức vụ đứng thứ hai trong hàng Tăng quan,  dưới Tăng thống.

Uy nghi là chức quan đứng đầu bên Đạo giáo. Sử cũ ghi rằng đạo sĩ Đặng Huyền Quang được giữ chức Sùng chân uy nghi.

+ Ngôi vị tạm thời:

Dười triều Đinh có một số người giữ ngôi vị tạm thời trong một thời gian nhất định, có hai trường hợp.

Thái tử là ngôi vị vua phong cho Đinh Hạng Lang, đứa con nhỏ mà vua rất yêu quý, nhằm về sau sẽ đưa lên ngôi vua khi mình qua đời.

Phó vương là ngôi vị Lê Hoàn tự xưng để giúp Vua Đinh Toàn (còn nhỏ) trông coi việc nước.

Quan chế thời Đinh đang còn rất sơ lược. Có người chỉ có tước mà không có chức, như Đinh Liễn, Nguyễn Bặc; có người thuở hàn vì cùng vua chịu nhiều gian khổ, nhưng không thấy có chức tước gì, như Trịnh Tú. Trong khi đó, đội ngũ tăng quan và đạo quan là những người trước đó chưa có công trạng gì thì lại rất được trọng dụng. Mặt khác, trong ghi chép của sử sách hoàn toàn vắng bóng đội ngũ quan lại địa phương như châu, hương, giáp, xã, động, sách.

Về quân đội

Nếu như bộ máy quan lại là vấn đề thiết yếu để điều hành đất nước thì quân đội là vấn đề sống còn của nhà Đinh khi mới lập nước. Tuy nhiên, nếu như bộ máy quan lại triều đình chưa có sẵn trước đó thì quân đội đã tồn tại từ năm 951. Đương nhiên, hồi bấy giờ chỉ là một đội nghĩa quân ít về số lượng, thô sơ về vũ khí và trang thiết bị, tạp nham về trang phục và chưa có phiên hiệu, chức tước rõ ràng, về kỷ luật cũng chưa có quy định cụ thể...

Sử cũ cho biết vào năm 974, quân đội được tổ chức thành 10 đạo, do Lê Hoàn làm Tướng quân Tổng chỉ huy cả 10 đạo quân. Số lượng quân sĩ theo nguyên tắc Thập tiến, tức đơn vị thấp nhất có 10 người, đơn vị cao hơn kế tiếp có 100 người, và cứ gấp 10 lần như thế cho đến đơn vị cao nhất.

Về trang thiết bị, vũ khí, quân đội thời Đinh sử dụng thuyền bè để hành quân và chuyên chở lương thực là chính, ngoài ra có thể dùng các loại xe cộ thô sơ do trâu, bò kéo những khi di chuyển bôn tập. Ngựa được dùng trong chiến đấu, nhưng chắc chắn bộ binh vẫn là lực lượng đông đảo hơn cả. Vũ khí có giáo mác, kiếm cung. Về trang phục, sử ghi rằng: năm 974, trang bị cho quân sĩ loại mũ da Tứ phương bình đính vuông bốn mặt, chóp bằng, trên hẹp dưới rộng. Đến năm 975, lại quy định áo mũ cho các quan văn võ, nhưng không cho biết các quan võ ăn mặc thế nào.

Về ngoại giao

Bắt đầu từ năm 970, Vua Đinh đã sai sứ sang nhà Tống giao hảo. Mỗi lần đi sứ, cả đi lẫn về thường là hai năm. Do đó, cứ hai năm lại có một lần đi sứ, hoặc ta sang nhà Tống, hoặc nhà Tống sang ta. Có lúc sứ bộ ta sang nhà Tống chỉ nhằm mục đích thăm hỏi, có khi để đáp lễ, có khi mừng vua Tống lên ngôi, cũng có khi đơn giản chỉ là mang sản vật như voi, vàng lụa, sừng tê sang biếu vua Tống mà thôi.

Trong khi mối quan hệ bang giao giữa nhà Đinh với nhà Tống ở phía Bắc được quan tâm đặc biệt, thì ngược lại, đối với nước láng giềng phía tây là Ai Lao và nước láng giềng phương Nam là Chăm Pa lại hết sức nguội lạnh, hầu như không hề qua lại thăm hỏi nhau. Có lẽ nhà Đinh ưu tiên đặc biệt cho mối quan hệ bang giao đối với nước láng giềng khổng lồ phía Bắc, là vì quá khứ đã chứng minh rằng nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đất nước trước hết đến từ phường Bắc chứ không phải là phương Nam.

Về cái chết của cha con Vua Đinh

Theo sử cũ, Chi hậu nội nhân Đỗ Thích, một chức Lại ở Đồng Quan, quê ở Đại Đê, Thiên Bản (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), vì một giấc mơ sao rơi vào mồm, cho là điềm mình sẽ làm vua nên đã ra tay sát hại cha con vua Đinh.

Dù sao thì việc cha con Vua Đinh bị sát hại đã dẫn đến sự cáo chung triều đại nhà Đinh. Sau biến cố năm 979, Lê Hoàn lên thay, đưa quốc gia Đại Cồ Việt phát triển lên tầm cao mới.
Theo Địa chí Ninh Bình

Thống kê truy cập
  • Đang online: 2
  • Hôm nay: 18
  • Trong tuần: 2 169
  • Tất cả: 66 933